áp xe gan do amip
Chẩn đoán và phân biệt được áp xe gan amíp và áp xe gan mật quản. 4. Trình bày được các phát đồ điều trị ãpe gan theo từng nguyên nhân gây bệnh. I. ĐẠI CƢƠNG. Là tình trạng viêm, nhiễm khuẩn và nung mủ xảy ra ở gan, bao gồm nhu mô gan và hệ. thống đường mật trong gan
– Áp xe gan do amip là một bệnh nhiễm khuẩn hay gặp ở Việt Nam, chiếm khoảng 80% các nguyên nhân gây áp xe gan. Đầu tiên chúng gây ra các vi huyết khối do tắc mạch, các vi huyết khối này sẽ bị hoại tử và tạo thành các ổ áp xe .
Bệnh lý đường mật: Hay gặp nhất, thường do tắc mật và gây viêm đường mật dẫn tới áp xe gan. Đường tĩnh mạch cửa: Từ các viêm nhiễm tại vùng bụng như viêm túi thừa, viêm ruột thừa, viêm mủ bể thận. Vi khuẩn theo đường tĩnh mạch cửa gây áp xe gan.
– Dùng thuốc diệt Amip đơn thuần với loại áp xe gan Amip có kích thước không lớn quá (đường kính khoảng 6cm ). – Dùng thuốc diệt Amip đơn thuần cho những bệnh nhân bị áp xe gan do Amip đến sớm ( trước 1 tháng ) 4.1.2. Các nhóm thuốc diệt Amip
Tổng quan bệnh Do amip. Bệnh do amip là bệnh nhiễm đơn bào Entamoeba histolytica, bệnh gây tổn thương đặc trưng là loét ở niêm mạc đại tràng và có khả năng gây ra các ổ áp xe ở những cơ quan khác nhau (như gan, não, ). Bệnh có xu hướng kéo dài và mạn tính nếu không được
5.3. Biến chứng bội nhiễm ổ áp xe: Ổ áp xe gan do amip để lâu có thể bị nhiễm khuẩn thêm vào, thường là vi khuẩn yếm khí, vi khuẩn Gram âm. Biến chứng này gặp l% trường hợp. 6. Chẩn đoán 6.1. Chẩn đoán xác định áp xe gan - Dựa vào lâm sàng: Có tam chứng Fontam.
goodmaxfpalse1970. Bệnh áp xe gan nguyên nhân, triệu chứng, chẩn đoán và điều trị là vấn đề sức khỏe thường gặp và được nhiều sự quan tâm ở nước ta. Trong những thập kỷ năm trước đây, bệnh áp xe gan đưa đến tử vong cao do các khó khăn trong tiếp cận chẩn đoán và điều trị không phù hợp. Tuy nhiên sau này nhờ phát hiện lâm sàng sớm, các tiến bộ trong chẩn đoán hình ảnh và điều trị ngoại khoa nên đã cải thiện đáng kể tiên lượng bệnh. Hãy cùng Docosan tìm hiểu về loại bệnh này trong bài viết sau đây nhé! Tóm tắt nội dung1 Bệnh áp xe gan là gì?2 Nguyên nhân bệnh áp xe gan3 Bệnh áp xe gan có lây không?4 Những triệu chứng bệnh áp xe gan5 Biến chứng bệnh áp xe Áp xe do vi Áp xe do amip6 Áp xe gan có chữa khỏi được không?7 Chẩn đoán bệnh áp xe Triệu chứng và các dấu Xét nghiệm sinh Hình ảnh học8 Điều trị áp xe gan9 Người bị áp xe gan nên ăn gì? Đây là một căn bệnh với đặc trưng là sang thương nhiễm trùng dạng hang ở gan của người bệnh. Có hai loại chính là áp xe gan do vi trùng và do amip. Hiện nay áp xe gan do vi trùng ít gặp, thường xảy ra ở người lớn tuổi 50-60 tuổi, sức khỏe yếu, có mắc bệnh ác tính, suy giảm hệ miễn dịch. Tỷ lệ nam/nữ 1,5 / 1. Nguyên nhân bệnh áp xe gan Căn nguyên của bệnh chủ yếu do vi trùng hoặc ký sinh trùng do các thể amip gây ra, trong đó hay gặp nhất là thể Entamoeba histolytica. Đối với nguyên nhân do vi trùng có 6 căn nguyên từ các đường sau đây vào gan gây áp xe Đường mật chiếm 40%Tĩnh mạch cửa khoảng 20%Động mạch gan 12%Chấn thương gan 4% Trực tiếp 6% Vô căn 20% hay gặp ở bệnh nhân bị đái tháo đường hay suy giảm miễn dịch Vi trùng có thể gây nhiều ổ Áp xe gan rải rác Bệnh áp xe gan có lây không? Có thể nói bệnh áp xe gan không thể lây nhiễm chắc chắn từ người này sang người khác, nhưng có sự lây nhiễm tác nhân gây bệnh. Cụ thể đối với amip, trong đó Entamoeba histolytica là thể gây bệnh có chu trình lây nhiễm qua đường phân – miệng từ người này sang người khác. Những người bị nhiễm amip sẽ gây hội chứng lỵ, tuy nhiên không phải ai bị nhiễm amip cũng bị bệnh áp xe gan. Vi khuẩn xâm nhập từ các can thiệp trên đường mật như chụp cản quang đường mật, đặt ống dẫn lưu dịch mật hay phẫu thuật nối mật – ruột làm nhiễm trùng đường mật là tác nhân có khả năng cao bị áp xe gan. Entamoeba histolytica gây hội chứng Lỵ và có thể là Áp xe gan Những triệu chứng bệnh áp xe gan Biểu hiện của bệnh thường điển hình với tam chứng sốt, gan to và đau vùng hạ sườn phải. Tuy nhiên đôi khi triệu chứng không đặc thù nên có trường hợp được phát hiện chẩn đoán chậm trễ. Các triệu chứng không đặc hiệu như sụt cân; buồn nôn, nôn; mệt mỏi; lạnh run; biếng ăn và ho, khó thở. Biến chứng bệnh áp xe gan Áp xe do vi trùng Chiếm khoảng 40% trường hợp bệnhNhiều nhất là nhiễm trùng toàn thân, nhiễm trùng huyết, tử vong cao khoảng 80-90%Các biến chứng ở phổi, màng phổi, viêm phổi, áp xe vỡ vào ổ bụng hiếm gặp. Áp xe do amip Chỉ 10% có xảy ra biến chứngHay gặp là vỡ ổ áp xe lên trung thất qua cơ hoành gây tràn dịch màng phổi, mủ màng phổi, áp xe phổi, viêm phổi, dò phế quảnVỡ ổ áp xe vào khoang bụng, hầu hết từ áp xe gan phảiRất hiếm gặp là vỡ vào màng tim gây suy tim ứ huyết, trụy tim mạch. Áp xe gan có chữa khỏi được không? Nhìn chung ngày nay nhờ chẩn đoán hình ảnh, thuốc kháng sinh, kèm ngoại khoa phát triển các thủ thuật dẫn lưu thành công nên dự hậu của bệnh đã nâng cao, tỷ lệ sống trên 90%. Nguyên nhân gây tử vong chủ yếu là do tiếp cận y tế chậm nên chẩn đoán bệnh trễ, không dẫn lưu áp xe, không loại bỏ ổ nhiễm, bệnh nhân già yếu, giảm miễn dịch, chấn thương nặng. Chẩn đoán bệnh áp xe gan Triệu chứng và các dấu chứng Sốt, bụng to và đau Gan to dưới bờ sườn phảiĐôi khi có thể sờ thấy 1 khối căng đau tại ganẤn đau hạ sườn phảiVẻ mặt nhiễm trùng bứt rứt, môi khô, lưỡi dơ … Tam chứng sốt – đau – gan to điển hình trong bệnh áp xe gan Xét nghiệm sinh hóa Có biểu hiện của nhiễm trùng hệ thống toàn thân Bạch cầu tăngĐa nhân trung tính chiếm ưu thếĐộ lắng hồng cầu máu giảm Chức năng gan – thận có thay đổi nhẹ Có thể soi cấy máu hoặc phân tìm vi trùng hoặc amip. Hình ảnh học Phương tiện cận lâm sàng quan trọng nhất trong chẩn đoán và tiên lượng Siêu âm lựa chọn hàng đầu, phát hiện 90-95% các trường hợp bệnh CT-scan độ nhạy 100%, giúp phân biệt áp xe do vi trùng hoặc amipX-quang ngực tìm biến chứng vỡ áp xe vào trung thấtChọc hút áp xe trong trường hợp khó chẩn đoán. Điều trị áp xe gan Thuốc kháng sinh là bắt buộc để tiêu diệt tác nhân gây bệnh Chọc hút điều trị khi uống thuốc không đáp ứng làm bệnh tình nặng hơnDẫn lưu qua da điều trị triệt để nhờ sự tiến bộ của hình ảnh học hỗ trợMổ dẫn lưu hiện nay ít sử dụng bởi độ xâm lấn của phẫu thuậtThời gian điều trị áp xe gan sẽ phụ thuộc vào độ nặng và thời điểm phát hiện bệnh. Nếu bệnh nhân được phát hiện bệnh chậm trễ và vào độ bệnh nặng thì điều trị cần phải kéo dài đến vài tháng. Người bị áp xe gan nên ăn gì? Thực hiện ăn chín uống sôi, đảm bảo chế biến và sử dụng an toàn vệ sinh thực phẩm, duy trì tốt chế độ ăn uống tại nhà sẽ giúp cải thiện thời gian điều trị áp xe gan. Xây dựng thực đơn ăn uống tăng cường chất xơ và giảm tối đa chất đạm và dầu mỡ để gan không phải làm việc nặngUống đủ nước, ăn đủ chất đặc biệt là các chất vi lượng cần thiết cho cơ thể giúp người bệnh tăng sức đề kháng Nên bổ sung các loại hoa quả, trái cây và rau tươi như bí ngô, khoai môn, cải xanh, cam, quýt, táo, cà rốt, củ cải … tốt cho chuyển hóa gan Tăng cường thức ăn chứa đạm tốt cho chức năng gan như thịt trắng, cà, thịt gà, trứng, các loại hạt, ngũ cốc … Rau củ quả tươi tốt cho người bệnh Áp xe gan trong điều trị và hồi phục Bệnh áp xe gan là bệnh không nguy hiểm đe dọa tính mạng nếu được phát hiện và can thiệp kịp thời với nền y khoa đang phát triển hiện khuyên tốt nhất cho người có các biểu hiện bệnh là hãy đến gặp Bác sĩ chuyên khoa Gan – mật, càng sớm càng tốt để chẩn đoán và điều trị dứt điểm bệnh tránh các biến chứng xấu có thể xảy ra. Cảm ơn bạn đã dành thời gian để đọc và tìm hiểu Bệnh áp xe gan nguyên nhân, triệu chứng, chẩn đoán và điều trị tại Docosan. Chúng tôi rất vinh hạnh chào đón và nhận được sự tín nhiệm từ các bạn. Bài viết được tham khảo từ bác sĩ và các nguồn tư liệu đáng tin cậy trong và ngoài nước. Tuy nhiên, Docosan Team khuyến khích bệnh nhân hãy tìm và đặt lịch hẹn với bác sĩ có chuyên môn để điều trị. Để được tư vấn trực tiếp, bạn đọc vui lòng liên hệ hotline 1900 638 082 hoặc CHAT để được hướng dẫn đặt hẹn.
Bài viết được tham vấn chuyên môn cùng Thạc sĩ, Bác sĩ chuyên khoa II Phan Thị Minh Hương - Bác sĩ Nội tiêu hóa - Khoa Khám bệnh & Nội khoa - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Đà Nẵng. Áp xe gan là một tình trạng nguy hiểm gây ra do nhiều tác nhân gây bệnh, nguyên nhân phải nói đến nhiều nhất là do amip. Áp xe gan amip thường có những biểu hiện lâm sàng tương đối giống với các loại khác, để nhận biết cần thực hiện các biện pháp cận lâm sàng, qua đó đưa ra biện pháp điều trị đúng đắn. 1. Áp xe gan amip là gì? Áp xe gan amip là sự hình thành ổ mủ trong tổ chức nhu mô gan, ổ mủ có thể to hoặc nhỏ, đơn độc hay nhiều ổ mủ khác nhau do amip gây ra. Amip ở người có 4 loại, nhưng trong đó chỉ có một loài Entamoeba histolytica hoạt động là gây amip này gây bệnh qua đường phân miệng, khi một người nhiễm amip sẽ gây ra bệnh lý tại đại tràng. Sau đó tại đại tràng chúng sẽ thải ra kén amip theo phân, kén này có thể tồn tại 10-15 ngày. Kén không bị tiêu hủy bởi thuốc tím và clo, với formol 0 5% sau 30 phút kén mới bị nhiễm amip khi ăn hay uống phải những thức ăn có chứa kén amip, sau đó kén tới đại tràng sinh sôi phát triển tại đó gây ra bệnh viêm đại tràng do amip hoặc có những người bị nhiễm thể không triệu chứng. Sau đó, vì một thương tổn tại niêm mạc đại tràng mà amip có thể vào tuần hoàn tĩnh mạch cửa hoặc bạch mạch tới gan gây ra những ổ áp xe gan. Đôi khi chúng có thể vào tuần hoàn chung gây ra áp xe phổi, não hay lách, tuy nhiên khám hiếm thống kê thì có tới 12% dân số thế giới bị nhiễm mạn tính với Entamoeba histolytica, đây là nguồn lây nhiễm nguy hiểm trong cộng đồng. Nhiễm amip thường xuất hiện ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, do tình trạng đông đúc và vệ sinh kém. Áp xe gan amip là sự hình thành ổ mủ trong gan 2. Đặc điểm nhận biết áp xe gan amip Dấu hiệu lâm sàng áp xe gan amipTrường hợp áp-xe gan nhiều ổ thường biểu hiện cấp tính, áp-xe gan một ổ đa phần diễn tiến chậm hơn với những biểu hiện sauCó thể khai thác được tiền sử du lịch đến vùng dịch tễ của vị trí thường 1/4 trên bên phải của bụng và có thể đau lan lên vai phải, bởi ổ áp xe đa số ở thùy phải của gan chiếm tới 80%. Đau tăng lên khi thở mạnh, đau tại vùng gan hạ sườn phải là một dấu hiệu nổi bật của tình trạng áp xe gan Thường xảy ra khá đột ngột với tình trạng sốt cao, môi khô, lưỡi ẩm và có thể kèm rét run 39 – 400C. Đôi khi một số trường hợp không điển hình có thể không sốt hoặc sốt loạn tiêu hóa Nôn và buồn nôn, chán ăn, giảm và khó thở do kích thích vào vùng cơ da có thể xảy sờ vùng gan thấy gan có Dấu hiệu cận lâm sàngXét nghiệm máu Tăng bạch cầu, thiếu máu đẳng sắc nhẹ, tốc độ máu lắng hóa máu Bất thường chức năng gan như tăng ALP, ALT, AST, giảm albumin, tăng nghiệm phân tìm kháng nguyên của đây là xét nghiệm có độ nhạy và độ đặc hiệu nghiệm tìm kháng nguyên amip bằng kỹ thuật Elisa trong huyết ngực thẳng Vòm hoành phải nâng cao, có thể có xẹp phổi hoặc tràn dịch màng âm ổ bụng tổng quát Thấy hình ảnh ổ áp-xe, có thể cho phép chọc hút qua da và dẫn lưu dưới hướng dẫn của siêu âm. Dịch mủ trong nhiễm amip thường có màu scan ổ bụng Cũng là biện pháp giúp phát hiện áp-xe trường hợp siêu âm không rõ hay nghi ngờ, cho phép chọc hút, dẫn lưu. Còn giúp phát hiện áp-xe khác trong bụng hoặc các bệnh khác như bệnh túi thừa, viêm ruột thừa. CT scan còn có thể giúp phát hiện những áp-xe nhỏ mà khó phát hiện trên siêu âm thông soi mật tụy ngược dòng Xác định rõ vị trí, nguyên nhân và điều trị kết hợp. Áp xe gan amip được chẩn đoán lâm sàng qua xét nghiệm máu 3. Điều trị áp xe gan amip Nếu áp xe gan không được điều trị hay giải phẫu bệnh áp xe gan amip kịp thời sẽ dẫn đến những biến chứng nặng như vỡ mủ gây viêm nhiễm toàn bộ ổ bụng, từ đó có thể gây choáng nhiễm khuẩn nhiễm độc rồi hôn mê và tử vong, đôi khi ổ mủ vỡ vào màng phổi, phổi, màng tim gây khó thở, suy hô hấp, chèn ép tim cấp biện pháp điều trị áp xe gan do amip gồmĐiều trị nguyên nhân do amip Dùng kháng sinh nhóm Metronidazol là thuốc điều trị áp xe gan amip được lựa chọn đầu tiên, có trên 95% bệnh nhân áp-xe gan do amip hồi phục với điều trị này. Thuốc Diloxanide furoate sử dụng trong 10 ngày để loại bỏ amip ở ruột sau khi áp-xe tại gan đã được điều trị thành lưu Dẫn lưu được sử dụng khi điều trị nội khoa không cải thiện, những ổ áp xe lớn, ổ áp xe có nguy cơ vỡ mủ cao thì đều có chỉ định dẫn lưu dưới hướng dẫn của siêu âm hoặc hút qua da Có thể được thực hiện đối với những áp-xe nhỏ, tuy nhiên đa số cần thực hiện dẫn thuật Được chỉ định khi cần thiết nếu ổ áp-xe bị vỡ và có dấu hiệu viêm phúc mạc, ổ áp-xe lớn hơn 5cm hay nhiều vách, ổ áp xe những vị trí không thể dẫn lưu hoặc trường hợp nếu có bệnh lý trong ổ bụng cần phẫu thuật như viêm ruột trị triệu chứng Điều trị bằng các biện pháp khác như nghỉ ngơi tại giường, chế độ ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng, truyền dịch, dùng thuốc hạ sốt-giảm đau, điều trị biến chứng nếu có các biện pháp chẩn đoán sớm và điều trị mà bệnh áp xe gan do amip đã giảm thiểu tỷ lệ tử vong nếu được phát hiện sớm. Để hạn chế nguy cơ mắc bệnh cần thực hiện các biện pháp ăn uống đảm bảo vệ sinh, ăn chín uống sôi và quan trọng khi xuất hiện các triệu chứng nghi ngờ bệnh cần tới khám, điều trị sớm nhất tránh nguy cơ biến chứng nguy hiểm. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. XEM THÊM Các biến chứng do áp xe gan gây nên Thuốc Flagyl 250mg Công dụng, liều dùng, tác dụng phụ Bị bệnh áp xe gan có chữa khỏi được không?
Đại cương Áp xe gan do amip là một bệnh nhiễm khuẩn hay gặp ở Việt Nam, chiếm khoảng 80% các nguyên nhân gây áp xe gan. Bệnh do một loại amip Entamoeba vegetative histolytica. Amip thường cư trú ở đại tràng, sau đó nó theo các tĩnh mạch mạc treo đại tràng vào gan. Đầu tiên chúng gây ra các vi huyết khối do tắc mạch, các vi huyết khối này sẽ bị hoại tử và tạo thành các ổ áp xe. Áp xe gan hay gặp ờ gan phải, một hoặc nhiều ổ, kích thước to nhỏ khác nhau. Mủ chọc ra thường có màu sôcôla, không mùi và không có vi khuẩn. Chẩn đoán Chẩn đoán xác định Tam chứng fontan Sốt, đau hạ sườn phải, gan to và đau. Sốt xuất hiện trước tiên, sốt cao từng cơn hoặc liên tục, có thể sốt nhẹ. sốt thường kèm với nhịp tim nhanh, vã mồ hôi. Đau hạ sườn phải mức độ nặng đau làm người bệnh khó chịu, đau xuyên lên vai phải, đau triền miên. Mức độ nhẹ người bệnh có cảm giác nặng nề, căng tức ở vùng hạ sườn phải. Đặc biệt có điểm đau chói khoang liên sườn. Gan to và đau gan to, mặt nhẵn, bờ tù, ấn đau, ấn kẽ sườn có điểm đau chói. Có thể gan không to. Ngoài ra, có thể gặp các triệu chửng của nhiễm amip ruột đi ngoài phân lỏng, có máu, nhiều lần trong ngày, soi đại tràng có loét ở đại tràng sigma và trực tràng. Bệnh nhân có thể mật mỏi, kém ăn, phù, cổ trướng do nung mủ kéo dài làm hạ protein máu, lách to, tràn dịch màng phổi. Xét nghiệm máu Huyết học bạch cầu tăng, máu lẳng tăng, CRP tăng. Phản ứng huyết thanh phản ứng ELISA với amip là phản ứng rất có giá trị để chẩn đoán áp xe gan do amip với độ nhậy và độ đặc hiệu rất cao. Phản ứng được coi là dương tính khi hiệu giá ngưng kết > 1/200. Chẩn đoán hình ảnh Xquang phổi cơ hoành bị đẩy lên cao, di động kém, có thể gặp hình ảnh tràn dịch màng phồi trong 80% các trường hợp. Siêu âm có giá trị nhất để chẩn đoán áp xe gan. Hình ảnh trên siêu âm là tổ chức giảm âm, ranh giới rõ. Mủ càng loãng thì hình ảnh siêu âm ổ áp xe càng giảm âm hoặc trống âm. Chụp cắt lớp vi tính gan mật khi siêu âm không phân biệt rõ u gan hay áp xe gan. Tổn thương là tổ chức giảm âm, không ngấm thuốc cản quang. Chụp cắt lớp vi tính gan giúp chần đoán chinh xác vị trí ổ áp xe, chần đoán phân biệt với u gan, đặc biệt là hình ảnh di căn gan. Chọc hút ổ áp xe ra mủ màu sôcôla, không mùi, cấy không có vi khuẩn Tuy nhiên, trên thực tế bệnh nhân có tam chứng Fontan, xét nghiệm máu có bạch cầu tăng, chụp Xquang phổi thấy cơ hoành bị đẩy lên cao hoặc có tràn dịch màng phổi là đủ tiêu chuẩn đề chẩn đoán áp xe gan do amip điển hình. Chẩn đoán phân biệt Áp xe gan do vi khuẩn hay gặp ờ bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết. Tổn thương thường là nhiều ổ nhỏ, chọc hút mủ có màu xanh hoặc vàng, cấy có vi khuẩn mọc. Áp xe gan do sán lá gan lớn tổn thương trên siêu âm là ổ giảm âm hoặc trống âm, ranh giới không rõ. Xét nghiệm ELISA với sán lá gan lớn dương tính. Áp xe gan do nấm. Ung thư gan trong ung thư gan hay gặp da sạm, giãn mạch, lòng bàn tay son, môi tím. Xét nghiệm máu thường alpha Fetoprotein FP tăng cao, siêu âm có khối tăng âm ở gan, chọc hút không ra mủ và xét nghiệm có tế bào ung thư. Áp xe đường mật do sỏi hoặc giun bệnh nhân thường có tiền sử đau hạ sườn phải, sốt, hoàng đảm. Mù chọc ra màu sữa hoặc vàng, có mùi thối, cấy có vi khuẩn mọc, thường là vi khuẩn Gram âm. Viêm túi mật bệnh bẳt đầu đột ngột bằng sốt và đau hạ sườn phải, thường sốt cao và đau dữ dội, có điểm đau chói vùng túi mật. Siêu âm có hình ảnh viêm túi mật do SỎI hoặc giun. Điều trị bằng kháng sinh bệnh đỡ nhanh. Tràn dịch màng phổi do bệnh phổi trong trường hợp áp xe gan vỡ lên khoang màng phổi bệnh nhân đột ngột khó thờ, khám có hội chứng ba giảm đáy phổi, siêu âm có áp xe ờ gan, chọc màng phổi hút ra dịch mủ. Tràn mủ màng ngoài tim trong trường hợp áp xe gan vỡ vào màng ngoài tim. Chẩn đoán nguyên nhân Tìm amip trong mủ hút ra thường ít thấy. Mủ chọc ra cấy không có vi khuẩn. Phản ứng ELISA với amip dương tính với hiệu giá kháng thể > 1/200. Kháng thể IgM với Entamoeba histolytica dương tính 90-100%. Lâm sàng bệnh nhân không có vàng da, không có tiền sử sỏi mật, giun chui ống mật. Chọc ra mủ màu sôcôla, không mùi, cấy không có vi khuẩn. Điều trị bằng thuốc chống amip có kết quả tốt. Điều trị Chủ yếu là điều trị nội khoa dùng thuốc kết hợp với chọc hút mủ dưới sự hướng dẫn của siêu âm. Điều trị ngoại khoa chỉ trong trường hợp đặc biệt khi có biến chửng. Điều trị nội khoa Dùng thuốc diệt amip Nhóm 5 – imidazol chủ yếu dùng metronidazol Klion, Flagyl 30-40mg/kg/ngày 1,5-2g/ngày trong 10-14 ngày, dùng đường truyền uống tùy theo mức độ bệnh. Có thẻ dùng tinidazol 500mg X 3 lần/ngày trong 7-10 ngày, hoặc omidazol, hoặc secnidazol. Diệt amip dạng kén ờ ruột dùng Intetrix dạng viên trong 7-10 ngày. Chọc hút mủ phối hợp với thuốc diệt amip. Chỉ định chọc hút mủ Điều trị bằng thuốc không khỏi. Bệnh nhân đến muộn trên 3 tháng. Chọc hút mủ sớm khi ổ áp xe quá to, nếu ổ áp xe nhỏ hơn nên điều trị thuốc vài ngày sau đó mới chọc hút mủ. Số lần và khoảng cách các lần chọc tùy thuộc kích thước và số lượng ổ áp xe. Khi kiểm tra trên siêu âm ổ áp xe dưới 4cm và đã có nhu mô gan ở trong thì không cần chọc hút nữa. Điều trị ngoại khoa dẫn lưu ổ mủ ra ngoài ổ áp xe vỡ vào ổ bụng. ỏ áp xe dọa vỡ. ổ áp xe quá to, gan to quá rốn, sờ vào căng như một bọc nước, chọc hút sê gây vỡ. Dùng thuốc đầy đủ, đúng cách phối hợp với chọc dò như trên mà không có kết quả. Cần chú ý dẫn lưu mủ vẫn phải phối hợp dùng thuốc diệt amíp như trên. Tài liệu tham khảo Protozoal iníections affecting the liver”. Textbook of Hepatology 3 rd 1046 – 1054. Hoffner RJ, Kilagbian J, Eselogvva VI, etal. “Common Presentations of amebic liver abscess”. Ann Emerg Med. Sep 1999, 34 3, 351 -5. Mirsa, SP, Misra, V, Dvvivedi, M. “Ileoceal masses in patients with amebic liver abscess etiology and management”. VVorld J Gastroentelogy 2006; 12 1993.
Bệnh do amip là bệnh nhiễm đơn bào Entamoeba histolytica, bệnh gây tổn thương đặc trưng là loét ở niêm mạc đại tràng và có khả năng gây ra các ổ áp xe ở những cơ quan khác nhau như gan, não, .... Bệnh có xu hướng kéo dài và mạn tính nếu không được điều trị tích cực. Mọi lứa tuổi đều có thể nhiễm amip nhưng 90% người nhiễm là không có triệu chứng, chỉ có 10% số người bị nhiễm có biểu hiện bệnh lỵ amip hoặc áp xe ở các cơ quan khác nhau. Người nhiễm Entamoeba histolytica sẽ hình thành miễn dịch tại chỗ ở thành ruột và toàn thân nhưng không có khả năng bảo vệ cơ thể khi có mầm bệnh xâm nhập. Ở những nước nhiệt đới có đời sống kinh tế xã hội thấp, bệnh có thể gây ra những vụ dịch lớn. Bệnh học amip Kén amip qua thức ăn, nước uống, ... xâm nhập vào cơ thể người qua đường tiêu hoá. Khi tới dạ dày, nhờ tác dụng của dịch vị phá vỡ vỏ, bốn nhân trong kén được giải phóng phát triển thành 4 amip nhỏ sau đó di chuyển xuống cư trú ở hồi manh tràng là nơi giàu chất dinh dưỡng, có độ pH thích hợp và có nhiều vi khuẩn cộng sinh. Bình thường amip nhỏ không xâm nhập được vào thành ruột để gây bệnh mà theo phân xuống đại tràng thải ra ngoài. Một số amip nhỏ co lại thành kén và cũng được thải theo phân ra ngoài là nguy cơ lây lan cho người khác. Khi thành ruột bị tổn thương do vi khuẩn khác hoặc chấn thương, amip nhỏ tấn công vào thành ruột, sinh sản tại đó và tiết ra các men tiêu protein dẫn đến hoại tử tế bào niêm mạc ruột. Tại thành ruột, lúc đầu amip gây ra những điểm sung huyết ở niêm mạc, sau đó tạo nên các cục nhỏ trên bề mặt niêm mạc rồi dần dần hoại tử và tạo thành những vết loét. Các vết loét có thể rộng tới 2-2,5cm, xung quanh bờ cương tụ, phù nề và sung huyết. Đáy vết loét sâu tới lớp dưới niêm và phủ bởi lớp mủ. Những vết loét gần nhau có thể thông với nhau tạo thành vết loét lớn hơn, sâu tới lớp cơ và cùng với các vi khuẩn tạo nên các ổ áp xe sâu, có thể gây thủng ruột và viêm phúc mạc mủ. Amip còn tạo nên các u hạt ở thành ruột đôi khi rất khó phân biệt với ung thư đại tràng. Khi các vết loét gây tổn thương mạch máu thành ruột, amip có thể thâm nhập vào máu và theo dòng máu đi khắp cơ thể gây tổn thương các cơ quan khác ngoài ruột như gan, phổi, não, ... tại đây amip có thể tạo thành các ổ áp xe. Mầm bệnh Nguyên nhân gây ra bệnh amip là đơn bào Entamoeba histolytica thuộc họ Entamoebidae, bộ Amoebida, ngành Protozoa. Chu kỳ sống của amip chia làm 2 thời kỳ thời kỳ hoạt động và thời kỳ nghỉ kén. Tuy vậy amip có thể chuyển từ dạng hoạt động sang dạng nghỉ hoặc ngược lại tùy theo điều kiện dinh dưỡng của môi trường trong cơ thể vật chủ. Dựa vào hình thể và sinh lý của Entamoeba histolytica có thể chia amip ra 3 thể Thể hoạt động lớn có trong phân, chỗ nhiều nhầy máu của người bệnh, kích thước khoảng 15-30 micromet, hoạt động mạnh nhất ở nhiệt độ 37°C và độ pH 6,5. Trong bào tương của amip có nhiều hồng cầu. Thể hoạt động lớn khi vào tế bào thường co lại trong bào tương với kích thước 4-8 micromet. Thể hoạt động nhỏ sống trong lòng đại tràng có kích thước dao động khoảng 8-25 micromet và chuyển động chậm hơn thể hoạt động lớn, trong bào tương không có hồng cầu. Thể kén là thể được tạo thành từ thể hoạt động nhỏ. Thể kén có hình oval hoặc tròn, đường kính từ 10-14 micromet, được bọc bởi 2 lớp vỏ. Thể kén non có 1 nhân nhưng khi già có 4 nhân. Sự tạo thành thể kén là tất yếu trong vòng đời của amip và đóng vai trò lây bệnh. Kén amip tồn tại ở ngoại cảnh tương đối tốt ở nhiệt độ 17-20°C tồn tại hàng tháng, ở 45°C kén chết sau 30 phút, ở 85°C chết sau vài giây. Nguồn bệnh Người bệnh cả thể cấp tính và mạn tính và người lành mang trùng thải kén amip theo phân gây ô nhiễm thực phẩm và nước uống. Một số động vật như khỉ, chó, mèo, chuột, ... có thể bị bệnh nhưng không thải kén ra ngoài do vậy không phải là nguồn bệnh. Thời gian ủ bệnh có thể kéo dài từ 1-2 tuần cho đến 3 tháng. Bệnh khởi phát có thể từ từ hoặc cấp tính. Người bệnh ban đầu có biểu hiện mệt mỏi, chán ăn, chóng mặt, đau bụng, … thường không sốt hoặc sốt nhẹ. Thời kỳ toàn phát, bệnh biểu hiện với 3 triệu chứng chủ yếu là Đau quặn bụng Mót rặn, đi ngoài “giả” bệnh nhân mót rặn, buồn đi đại tiện nhưng lại không có phân Đi tiêu nhiều lần, phân nhầy lẫn máu Thể cấp tính thường gặp hội chứng lỵ bao gồm đau bụng, mót rặn và đi tiêu phân nhầy máu. Đau bụng quặn từng cơn, đau dọc theo khung đại tràng trước khi đi tiêu, đau buốt hậu môn kèm cảm giác mót rặn dữ dội. Đi tiêu phân nhầy máu, đôi khi xen kẽ với tiêu chảy, mỗi lần đi tiêu ít phân, nhưng đi nhiều lần trong ngày. Thể nhẹ đi tiêu phân nhầy máu vài lần mỗi ngày, ít mệt mỏi Thể trung bình bệnh nhân mệt nhiều, đi tiêu khoảng 5-15 lần mỗi ngày Thể nặng bệnh nhân suy kiệt, mất nước, rối loạn chất điện giải, bụng chướng, cảm giác mót rặn và đau bụng nhiều, đi tiêu phân nhầy máu >15 lần/ngày Thể bán cấp Bệnh nhân đau bụng ít, tiêu chảy phân lỏng ít nhầy nhớt, ít khi có cảm giác mót rặn, đôi khi có táo bón. Thể mạn tính Sau giai đoạn cấp tính hay bán cấp, bệnh trở thành mạn tính với nhiều đợt bệnh cách nhau. Lúc này chức năng đại tràng không còn nữa, triệu chứng bệnh giống như viêm đại tràng mạn đau bụng lâm râm, liên tục và rối loạn tiêu hóa, thường là tiêu chảy, đầy hơi, ăn không tiêu đối với một số thức ăn, thể trạng suy nhược, biếng ăn, sụt cân. Trường hợp xảy ra trên những bệnh nhân suy nhược, dinh dưỡng kém, kết hợp với một bệnh ký sinh trùng khác hoặc với một bệnh nhiễm khuẩn đường ruột như thương hàn, lỵ trực trùng hoặc tụ cầu trùng thì bệnh cảnh sẽ rất nặng nề, người bệnh thường tử vong vì sốc dù đã được điều trị tích cực. Bệnh thể hiện bằng hội chứng lỵ kịch liệt cơ thắt hậu môn mở rộng, phân có máu và nhầy tự nhiên chảy ra. Bệnh lỵ amip có thể gây ra các biến chứng như thủng ruột gây viêm phúc mạc, xuất huyết tiêu hóa, polyp đại tràng, sa niêm mạc trực tràng, viêm ruột thừa do amip. Trong đó biến chứng thường gặp là viêm gan hoặc áp xe gan do amip, viêm phổi - màng phổi hoặc áp xe phổi do amip, áp-xe não do amip, ... Theo phân loại của Tổ chức Y tế thế giới bệnh do amip được chia thành các thể Amip ruột Thể amip ruột cấp tính Thể amip ruột mạn tính lỵ amip mạn tính Biến chứng ở ruột do amip viêm phúc mạc do thủng ruột, u amip, viêm ruột thừa do amip, co thắt đại tràng do sẹo, sa trực tràng, ... Amip ngoài ruột Viêm gan do amip viêm gan do amip không hóa mủ hoặc áp xe gan do amip Áp xe do amip ở các cơ quan khác phổi, não, ... Amip da Lây qua đường tiêu hoá người mắc bệnh amip do ăn phải vi khuẩn này khi ăn thức ăn hay uống nước bị nhiễm khuẩn hoặc tiếp xúc với phân của người bệnh. Hoạt động tình dục bằng miệng có tiếp xúc với phân cũng có thể gây nhiễm bệnh. Người nhiễm bệnh có thể lây ký sinh trùng sang người khác ngay cả khi không có triệu chứng. Mọi lứa tuổi đều có thể bị nhiễm amip nhưng lứa tuổi mắc bệnh nhiều nhất là từ 20 đến 30 tuổi. Ngoài ra những yếu tố nguy cơ khác làm tăng khả năng mắc bệnh do amip là Nam giới có nguy cơ mắc bệnh cao hơn nữ giới Nhà ở vệ sinh kém, chật chội Ăn rau sống rửa không sạch Chất lượng nguồn nước sinh hoạt hàng ngày kém Đang nhiễm ký sinh trùng khác Phương pháp phòng bệnh amip chủ yếu là vệ sinh ăn uống, tránh để lây nhiễm kén amip vào thức ăn, nước uống Thực hiện ăn chín, uống sôi Khi dùng rau quả tươi phải rửa sạch dưới vòi nước, phải khử trùng hoặc có xử lý bằng tia cực tím để diệt kén amip. Không dùng thức ăn, thức uống từ những nguồn không rõ ràng. Không uống nước chưa khử sạch từ sông, hồ hay suối. Nhiều loại viên lọc nước không thể diệt được loại ký sinh trùng này. Uống nước hay sử dụng nước đá từ các nguồn sạch như nước đóng chai. Không nên uống sữa hay ăn các sản phẩm bơ sữa chưa tiệt trùng, hoa quả chưa nấu trừ khi có thể bóc vỏ, salad và rau sống. Luôn rửa tay kỹ bằng nước và xà phòng trước khi ăn, trước khi nấu nướng, sau khi đi vệ sinh, sau khi thay tã hay sau khi giúp người khác đi vệ sinh. Luôn sử dụng các biện pháp bảo vệ, như miếng bảo vệ răng miệng, khi có các hoạt động tình dục liên quan đến hậu môn chạm với miệng. Xử lý phân hợp vệ sinh, tuyệt đối không dùng phân tươi bón rau quả. Vứt bỏ tất cả những thứ có thể đã dính phân. Điều trị những người mang kén amip bằng metronidazol. Tuyên truyền giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm. Lâm sàng tùy theo từng thể bệnh. Đại tràng là nơi cư trú đầu tiên của amip do vậy thể amip ruột là thể bệnh cơ bản hầu như các bệnh nhân đều trải qua. Hội chứng lỵ là hội chứng cơ bản trong bệnh do amip với các triệu chứng sau đau bụng dọc khung đại tràng nhất là vùng manh tràng, đại tràng lên, mót rặn, đi tiêu xong đỡ đau, phân có nhầy trong và máu, nhầy và máu riêng rẽ. Đi tiêu khoảng 4-10 lần trong ngày, có lần đi ngoài “giả”. Hội chứng nhiễm trùng nhiễm độc không rõ ràng. Bệnh nhân có thể sốt nhẹ, sốt thất thường trong ngày hoặc không sốt, các triệu chứng nhiễm độc nhẹ, không rõ ràng. Dịch tễ Tiếp xúc với người bị bệnh Trong gia đình có người bị bệnh Cùng bếp ăn có người bị bệnh Sống trong vùng đang có dịch lưu hành Ăn thức ăn nghi bị nhiễm amip Xét nghiệm Chẩn đoán xác định phải dựa vào việc tìm thấy Entamoeba histolytica ở trong phân, mủ các ổ áp xe của bệnh nhân. Phương pháp thông thường nhất là lấy bệnh phẩm soi tươi trên kính hiển vi quang học phải soi ngay khi mới lấy bệnh phẩm. Ngoài ra có thể ứng dụng phương pháp miễn dịch huỳnh quang, phản ứng kết hợp bổ thể hoặc nuôi cấy amip ở môi trường nhân tạo và cấy truyền bệnh cho động vật thực nghiệm mèo, chuột, .... Để xác định những ổ áp xe hoặc u amip có thể làm siêu âm gan, thận, chụp X-quang phổi, não, chụp cắt lớp vi tính CT scanner. Trong trường hợp áp xe gan, thận, phổi chọc hút ổ áp xe sẽ thấy mủ màu sôcôla. Chẩn đoán phân biệt tùy theo từng thể bệnh mà cần phải chẩn đoán phân biệt với những bệnh khác nhau. Đối với amip ruột lỵ amip Phân biệt với bệnh lỵ trực khuẩn vì đều có hội chứng lỵ. Tuy vậy bệnh lỵ trực khuẩn thường diễn biến cấp tính với hội chứng nhiễm trùng nhiễm độc rõ. Các triệu chứng của hội chứng lỵ cũng khác đau bụng dọc theo khung đại tràng, đặc biệt là đại tràng xích ma và trực tràng, đi tiêu nhiều lần, phân nhầy đục máu lẫn lộn hoặc loãng như nước rửa thịt. Phân biệt với viêm đại tràng mạn, bệnh Crohn, bệnh loét đại tràng, loạn khuẩn ruột, nhiễm độc kim loại nặng chì, thuỷ ngân, ..., hội chứng tăng urê huyết, khối u đại trực tràng, khối u vùng tiểu khung, ... Đối với viêm gan do amip cần phân biệt với viêm gan do siêu vi. Đối với áp xe gan do amip cần phân biệt với áp xe đường mật do vi khuẩn hoặc ung thư đường mật, ung thư gan, ... Đối với áp xe phổi cần phân biệt với lao phổi, u phổi hoặc áp xe phổi do các nguyên nhân khác. Điều trị đặc hiệu các thuốc diệt amip theo chỉ định của bác sĩ Điều trị kết hợp Thuốc giảm đau nếu bệnh nhân đau bụng nhiều do co thắt đại tràng thì dùng các thuốc giảm đau, giãn cơ, ... Trong trường hợp áp xe gan, áp xe phổi có bội nhiễm vi khuẩn phối hợp thuốc diệt amip với thuốc kháng sinh theo kháng sinh đồ, đồng thời phải giải quyết ổ áp xe bằng chọc hút hoặc phẫu thuật khi ổ áp xe gan do amip quá to đường kính >6-8cm. Xem thêm Bệnh áp xe gan có nguy hiểm không? Gan nằm ở vị trí nào trong cơ thể người? Gói khám sàng lọc gan mật - toàn diện
áp xe gan do amip