áp xe thành sau họng
Thuốc kháng sinh, như cephalosporin phổ rộng (ví dụ, ceftriaxone 50 đến 75 mg/kg tiêm tĩnh mạch một lần/ngày) hoặc clindamycin, đôi khi có thể đủ cho trẻ em có ổ áp xe nhỏ. Tuy nhiên, hầu hết bệnh nhân cần dẫn lưu áp xe qua vết mổ ở thành sau hạ họng.
4. Điều trị bệnh Áp xe thành sau họng: - Chưa có mủ, áp xe mới, thành sau họng sung nề : KS liều cao phối hợp, chống kị khí, chống phù nề. - Khi khối áp xe đã có mủ: phải chích rạch tháo mủ và dẫn lưu mủ ở ổ áp xe. Nếu áp xe to cần chọc hút bớt mủ trước khi trích
Ấm áp những chuyến xe nghĩa tình. ĐNO - Biết nhiều xe máy trên địa bàn thành phố bị hư hại do ngập sâu trong nước sau bão số 5, nhiều nhóm sửa xe chở theo đồ nghề, thiết bị từ Quảng Nam ra Đà Nẵng để sửa xe miễn phí cho người dân. Đội sửa xe miễn phí đến từ
Tay trái đè lưỡi nhẹ nhàng bộc lộ thành sau họng. Dùng bơm tiêm chọc dò vào nơi phồng nhất sâu độ 5 mm, hút bớt mủ cho áp xe xẹp lại, người bệnh sẽ dễ thở hơn. Dùng dao nhọn chích theo chỗ chọc dò theo chiều trên dưới dài 5 mm. Hút sạch mủ.
Nguyên nhân của áp xe thành sau họng thường do: A. Biến chứng của viêm VA và viêm mũi. B. Biến chứng của viêm amidan tái đi tái lại nhiều lần. C. Nhét mèche mũi trước để quá lâu. D. Nhét mèche mũi sau để quá lâu. Hãy suy nghĩ và trả lời câu hỏi trước khi xem đáp án. Câu
1. PHẦN CHUNG. Áp xe gan là do tổ chức tế bào gan bị phá hủy tạo thành ổ mủ ở gan. Từ năm 200 sau công nguyên Golien đã mô tả áp xe gan. Đến năm 1631 Bonfius người Hà Lan đầu tiên nói về áp xe gan vùng Viễn Đông. Từ đấy ở …
goodmaxfpalse1970. I. TỔNG QUÁTÁp xe thành sau họng là viêm tấy, tụ mủ ở khoang Heké hay khoang sau họngChủ yếu gặp ở trẻ em dưới 2 tuổi, do viêm tấy mủ hạch lympho Gillete nằm trong khoang này. Hạch Gillete sơ teo nhỏ dần và mất đi sau 2 tuổiII. NGUYÊN NHÂNChủ yếu do biến chứng của viêm VA cấp, gặp trong viêm mũi, viêm họng do vi khuẩn hay virus vì hạch Gillete nhận bạch huyết của cả vùng mũi họng, vòi trẻ lớn, người lớn có thể gặp do chấn thương, hóc xương vùng thành sau họngIII. CHẨN ĐOÁNTrẻ đang vị viêm VA cấp hay viêm mũi họng cấp đột nhiên sốt cao, có thể tình trạng nhiễm trùng, mệt mỏi, quấy khóc nhiềuKhó nuốt là triệu chứng cơ bản, có sớm và rõ rệt+ Lúc đầu khó nuốt do nuốt đau.+ Sau khối áp xe hình thành, to lên không chỉ nuốt đau tăng mà gây nuốt vướng nuốt đau, nuốt vướng nên trẻ không bú, ăn uống được. Trẻ luôn luôn có ứ đọng, chảy nước khóc, nói lúc đầu không rõ, sau khàn có thể không ra tiếngKhó thở, khò khè do khối áp xe to làm cản trở đường thở. Nếu khối áp xe thấp, lan xuống vùng hạ họng – thanh quản → khó thở thanh quảnHạch cổ thường sưng to, đau làm bệnh nhi luôn cúi thiếu ăn, thiếu thở nên thể trạng suy sụp họng để xác định tình trạng, vị trí khối áp xe thành sau họng, nhưng phải hết sức thận trọng, nhẹ nhàng và nhanh chóng khi đè lưỡi vì có thể gây cơn ngưng thở dẫn đến tử vong+ Thành sau họng bị khối áp xe dầy phồng, căng, mềm, nó thường ở chính giữa, có thể hơi lệch sang bên, có thể khối áp xe ở thấp dưới đáy lưỡi, khó nhìn thấy rõ.+ Không nên dùng đè lưỡi, hay ngón tay đè, ấn trên chỗ phồng vì khối áp xe có thể tự vỡ, mũ trào vào đường thở gây sặc, ngạt thở, tử vong.– Chuẩn đoán áp xe thành sau họng+ Ở trẻ nhỏ < 2 tuổi chủ yếu dựa trên tình trạng nhiễm trùng nặng; không bú, ăn được; tiếng khóc thay đổi, không ra tiếng; thở khò khè.+ X-quang cổ nghiêng cho thấy rõ vị trí khối áp xe trước cột sống, đôi khi có hình khí và bóng hơi phía trên áp xe.+ Cần chẩn đoán phân biệt dị vật, viêm thanh nhiệt xuất hiện đột ngột khó thở có trước, thành sau họng bình thường.+ Ở trẻ lớn, người lớn ít gặp có tiền sử chấn thương, hay dị vật, tình trạng nhiễm trùng, khó thở thường không nguy kịch.+ Chuẩn đoán phân biệt với cột sống cổ Bệnh Pott áp xe lạnh ở khoang trước cột sống, diễn tiến từ từ, không XỬ TRÍ Khi ổ áp xe chưa hình thành rõĐiều trị với kháng sinh liều cao+ Clafon Rocephine, Moxalacfam 50 – 100 mg/kg JIV.+ Metronidazo Flagyl, Tiberal 20 – 30 mg /kg JJMC.+ Tùy thuộc chức năng gan của bệnh nhân.+ PNC M, Angmentin, Clindangycin 20 – 25 mg/kg/3lần/J.+ Phối hợp Coiticoid chống viêm phù nề.Theo dõi sátKhi ổ áp xe đã hình thànhCần nhanh chóng chích tháo ổ mủ đang đe dọa nghiêm trọng sinh ạng đứa trẻ. Làm trong phòng mổ có đủ phương tiện hồi sức. Làm theo các thao tác sau đây+ Trẻ nằm ngửa, đầu thấp cho tiền mê và gây mê nhẹ qua úp mặt nạ gây mê.+ Chọc hút đi 1 phần để giảm sức căng để ép khối áp xe. Và tránh làm vỡ ổ áp xe. Phẫu thuật viên dùng Mac Intosh. Nâng nhẹ lưỡi lên để nhìn rõ ổ áp xe dùng máy hút mạnh, có ống hút với kim 13 – 16, chọc hút lấy mủ rồi lấy mủ tìm VK. Và làm kháng sinh đồ.+ Rạch mổ ổ áp xe ở nơi mềm nhất theo đường thẳng hết mủ, dốc đầu bệnh nhân xuống thấp khi mạch mở.+ Đặt ống thực quản qua mũi, nuôi ăn một tuần.+ Hậu phẫu trong 2 – 3 ngày đầu, phải theo dõi vết chích rạch, banh lại mép rạch để hút sạch mủ. Kết hợp kháng sinh toàn thân dựa theo kháng sinh đồ trong 6 – 10 ngày chống suy dinh dưỡng cho trẻ. Sau 1 tháng nạo VA. Nếu trẻ có VA rõ.
Nguồn chủ đề Áp-xe sau họng, phổ biến nhất ở trẻ nhỏ, có thể gây đau họng, sốt, cứng cổ và thở rít. Chẩn đoán cần phải chụp X quang hoặc CT cổ phim nghiêng. Điều trị bằng đặt nội khí quản, dẫn lưu và dùng kháng xe sau họng phát triển trong các hạch bạch huyết sau họng ở phía sau của họng, tiếp giáp với các đốt sống. Các áp xe này có thể được tạo thành do nhiễm trùng ở họng, xoang, amidan hoặc mũi. Các áp xe này xảy ra chủ yếu ở trẻ em từ 1 đến 8 tuổi vì các hạch bạch huyết ở sau họng bắt đầu lặn vào khoảng 4 đến 5 tuổi. Tuy nhiên, người lớn có thể bị nhiễm trùng sau khi nuốt phải dị vật hoặc sau khi dùng thiết bị. Các sinh vật phổ biến bao gồm vi khuẩn hiếu khí các loài Streptococcus và Staphylococcus và vi khuẩn kỵ khí Bacteroides và Fusobacterium và ngày càng tăng ở người lớn và trẻ em, HIV và bệnh hậu quả nghiêm trọng nhất bao gồm tắc nghẽn đường thở, sốc nhiễm trùng, vỡ áp xe vào đường thở dẫn đến viêm phổi hít hoặc ngạt thở, viêm trung thất, vỡ động mạch cảnh và viêm tắc tĩnh mạch mưng mủ ở tĩnh mạch cảnh trong hội chứng Lemierre. Các triệu chứng và dấu hiệu của áp xe sau họng Các triệu chứng và dấu hiệu của áp xe sau họng ở trẻ em thường xảy ra sau khi bị nhiễm trùng đường hô hấp trên cấp tính và ở người lớn do nuốt phải dị vật hoặc dụng cụ đo. Trẻ có thể bị nuốt đau, khó nuốt, sốt, nổi hạch cổ, cứng gáy, thở rít, khó thở, ngáy hoặc thở ồn ào và vẹo cổ. Người lớn có thể bị đau cổ dữ dội nhưng ít bị thở rít hơn. Thành sau họng có thể phình ra một bên. Chụp X-quang Chụp CTNghi ngờ áp xe sau họng ở những bệnh nhân bị đau họng dữ dội, không rõ nguyên nhân và cứng cổ, thở rít hoặc thở ồn ào. Chụp X-quang mô mềm ở phần bên của cổ, được chụp trong điều kiện ưỡn cổ hết mức tối đa có thể và trong khi hít vào, có thể cho thấy các ổ mô mềm phì đại trước đốt sống, đảo ngược độ ưỡn của cổ bình thường, khí ở các mô mềm trước đốt sống hoặc mòn thân đốt sống kế cận. CT có thể giúp chẩn đoán các trường hợp nghi vấn, giúp phân biệt viêm mô tế bào với áp xe và đánh giá phạm vi của áp xe. Thuốc kháng sinh ví dụ ceftriaxone, clindamycinThường phẫu thuật dẫn lưuThuốc kháng sinh, chẳng hạn như cephalosporin phổ rộng ví dụ, ceftriaxone 50 đến 75 mg/kg đường tĩnh mạch một lần/ngày hoặc clindamycin, đôi khi có thể đủ cho trẻ bị áp xe nhỏ. Tuy nhiên, hầu hết bệnh nhân cũng cần phải dẫn lưu qua một vết rạch ở thành sau họng. Đặt nội khí quản được thực hiện trước mổ và duy trì trong 24 đến 48 giờ. Bản quyền © 2023 Merck & Co., Inc., Rahway, NJ, USA và các chi nhánh của công ty. Bảo lưu mọi quyền.
Áp xe là gì? Áp xe là tên gọi của một tổ chức viêm nhiễm, khu trú thành một khối mềm, bên trong chứa đầy mủ cấu tạo từ vi khuẩn, xác bạch cầu và các mảnh vụn. Áp xe dễ dàng được nhận diện trên lâm sàng với các đặc điểm sau là một khối mềm, lùng nhùng, da vùng áp xe thường nóng, đỏ, sưng nề, chạm vào thấy đau. Một số triệu chứng khác có thể thấy trên lâm sàng tùy thuộc vào vị trí của các ổ áp xe. Áp xe có thể hình thành ở khắp các vùng trên của cơ thể. Chia làm 2 nhóm chính Áp xe ở mô dưới da ổ mụn nhọt, hậu bối là hình thái phổ biến nhất. Vị trí thường gặp nhất là nách do lỗ chân lông bị nhiễm trùng, âm đạo do các tuyến ở cửa âm đạo bị nhiễm trùng, da vùng xương cùng cụt gây nên áp xe nếp lằn mông, quanh răng gây nên áp xe răng. Áp xe bên trong cơ thể các ổ áp xe thỉnh thoảng hình thành bên trong cơ thể, ngay tại mô của các cơ quan như áp xe gan, áp xe não, áp xe thận, áp xe vú,… hoặc tại khoảng kẻ giữa chúng. Nhiễm trùng là nguyên nhân trực tiếp phổ biến nhất gây ra áp xe. Các tác nhân nhiễm trùng gây bệnh bao gồm Vi khuẩn vi khuẩn xâm nhập vào mô dưới da hoặc các tuyến bài tiết, gây nên phản ứng viêm, hoạt hóa các chất hóa học trung gian và các tế bào bạch cầu. Sự tắc nghẽn chất tiết của các tuyến mồ hôi, tuyến bã là điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn xâm nhập và phát triển. Quá trình hệ miễn dịch cơ thể chống lại vi khuẩn sinh ra một chất lỏng gọi là mủ, chứa nhiều vi khuẩn và xác bạch cầu. Staphylococcus aureus là loại vi khuẩn chiếm tỷ lệ cao nhất ở nhiều khu vực trên thế giới, gây áp xe dưới da, áp xe màng cứng cột sống. Ký sinh trùng tác nhân này thường gặp ở các nước đang phát triển hơn, có thể kể đến các loại như giun chỉ, sán lá gan, giòi,… Chúng thường gây áp xe bên trong các tạng của cơ thể như áp xe gan do sán lá gan. Biểu hiện lâm sàng của áp xe khá đặc hiệu, bao gồm Áp xe nông dưới da quan sát thấy một khối phồng, da bao phủ lên ổ áp xe đỏ, sưng nề vùng da xung quanh, khi sờ vào có cảm giác nóng, đau, lùng nhùng do chứa mủ bên trong. Triệu chứng đau gặp trong áp xe là do áp lực trong khối áp xe tăng. Khi nhiễm trùng lan rộng ra các mô sâu hơn, người bệnh có thể có sốt, mệt mỏi. Áp xe bên trong cơ thể được phân loại áp xe sâu. Bệnh nhân gặp phải có triệu chứng toàn thân như sốt cao, rét run, ớn lạnh, môi khô, lưỡi bẩn. Toàn thân mệt mỏi, suy kiệt, hốc hác. Tùy theo vị trí của ổ áp xe, trên lâm sàng có thể gặp phải các triệu chứng khác như sốt cao rét run, đau tức vùng hạ sườn phải trong áp xe gan. Áp xe có thể được lây truyền do tác nhân gây bệnh lây lan từ người bệnh sang người lành. Đường lây truyền cụ thể thay đổi tùy theo từng nguyên nhân cụ thể. Những người có các đặc điểm sau có khả năng hình thành các khối áp xe cao hơn những người khác Điều kiện sống thiếu vệ sinh Thường xuyên tiếp xúc với người bị nhiễm trùng da Người gầy còm, suy kiệt, sức đề kháng kém Nghiện rượu, ma túy Mắc các bệnh như đái tháo đường, ung thư, AIDS, viêm loét đại tràng, bệnh Crohn Các bệnh về máu như bệnh hồng cầu hình liềm, bệnh bạch cầu Chấn thương nặng Sử dụng corticoid kéo dài, các thuốc tiêm tĩnh mạch Đang trong liệu trình hóa trị Áp xe có thể được phòng ngừa bằng các biện pháp sau Nâng cao, cải thiện môi trường sống Giữ gìn vệ sinh cá nhân tốt Ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng Thường xuyên luyện tập thể dục thể thao Xây dựng lối sống lành mạnh, tăng cường hệ miễn dịch Thường xuyên rửa tay bằng xà phòng, đặc biệt sau khi tiếp xúc với người bệnh hoặc chất thải của người bệnh. Không lạm dụng rượu và sử dụng ma túy Tuân thủ điều trị tốt các bệnh lý nhiễm khuẩn, các bệnh lý toàn thân như đái tháo đường Đến gặp bác sĩ khi có các triệu chứng bất thường, không được tự ý điều trị, tránh để tổn thương lan rộng và nặng nề hơn. Chẩn đoán áp xe mô dưới da thường được thực hiện dễ dàng thông qua việc thăm khám lâm sàng với các biểu hiện sưng, nóng, đỏ, đau vùng da che phủ khối áp xe. Đối với áp xe bên trong cơ thể hay áp xe nội, các triệu chứng lâm sàng như sốt cao, rét run, đau tức vùng chứa khối áp xe chỉ mang tính chất gợi ý. Việc chẩn đoán xác định cần có sự hỗ trợ của các xét nghiệm cận lâm sàng và phương tiện chẩn đoán hình ảnh, bao gồm Công thức máu bạch cầu tăng cao, ưu thế bạch cầu đa nhân trung tính Xét nghiệm thể hiện phản ứng viêm trong cơ thể tốc độ lắng máu, fibrinogen và globulin tăng cao. Định lượng Protein C phản ứng CRP là một xét nghiệm có độ chính xác cao, cho phép phát hiện tình trạng viêm, nhiễm trùng trong cơ thể sớm hơn. Cấy máu dương tính Siêu âm rất có ích trong các trường hợp áp xe sâu như áp xe ở gan, mật, cơ đùi, cơ thắt lưng CT scan, MRI phát hiện hình ảnh các ổ áp xe ở các cơ quan như áp xe gan, phổi Chọc dò dịch, hút mủ làm xét nghiệm Sinh thiết tổn thương Chẩn đoán áp xe mô dưới da thường được thực hiện dễ dàng thông qua việc thăm khám lâm sàng với các biểu hiện sưng, nóng, đỏ, đau vùng da che phủ khối áp xe. Đối với áp xe bên trong cơ thể hay áp xe nội, các triệu chứng lâm sàng như sốt cao, rét run, đau tức vùng chứa khối áp xe chỉ mang tính chất gợi ý. Việc chẩn đoán xác định cần có sự hỗ trợ của các xét nghiệm cận lâm sàng và phương tiện chẩn đoán hình ảnh, bao gồm Công thức máu bạch cầu tăng cao, ưu thế bạch cầu đa nhân trung tính Xét nghiệm thể hiện phản ứng viêm trong cơ thể tốc độ lắng máu, fibrinogen và globulin tăng cao. Định lượng Protein C phản ứng viêm, nhiễm trùng trong cơ thể sớm hơn. Cấy máu dương tính Siêu âm rất có ích trong các trường hợp áp xe sâu như áp xe ở gan, mật, cơ đùi, cơ thắt lưng CT scan, MRI phát hiện hình ảnh các ổ áp xe ở các cơ quan như áp xe gan, phổi Chọc dò dịch, hút mủ làm xét nghiệm Sinh thiết tổn thương CRP là một xét nghiệm có độ chính xác cao, cho phép phát hiện tình trạng Một tổ chức áp xe nếu không được điều trị sẽ tiến triển nặng dần lên với tăng kích thước, đau nhiều hơn, xâm lấn rộng ra các mô xung quanh, cuối cùng có thể vỡ. Áp xe ở mô dưới da có thể vỡ ra da và chảy mủ ra bên ngoài, một số trường hợp còn tạo ra đường dò, phá hủy một vùng mô sâu rộng, gây khó khăn cho việc điều trị sau này. Các khối áp xe trong cơ thể cũng có thể vỡ vào ổ phúc mạc, gây viêm phúc mạc khu trú hoặc toàn thể, nặng hơn có thể dẫn tới nhiễm trùng máu. Việc điều trị áp xe phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó quan trọng nhất là phân loại áp xe nông hay áp xe mô dưới da và áp xe sâu bên trong các cơ quan. Đối với các ổ áp xe mô dưới da, biện pháp điều trị hiệu quả là rạch dẫn lưu mủ ra ngoài. Một số nghiên cứu chứng minh việc sử dụng kết hợp thêm với thuốc kháng sinh không mang lại hiệu quả. Khi hết chảy dịch, bác sĩ có thể chèn gạc để cầm máu và băng vết thương. Một số các trường hợp áp xe nông nhỏ có thể tự chảy dịch và khô lại mà không cần can thiệp gì. Thuốc giảm đau thông thường như paracetamol, aspirin có thể được chỉ định ở các bệnh nhân nhạy cảm. Đối với các ổ áp xe sâu, can thiệp ngoại khoa như rạch, dẫn lưu ổ áp xe cần phối hợp với thuốc kháng sinh. Thuốc kháng sinh nên được sử dụng theo kết quả kháng sinh đồ, sử dụng sớm và đủ liều. Việc rạch dẫn lưu mủ thường được thực hiện dưới sự hướng dẫn của các phương tiện chẩn đoán hình ảnh như siêu âm. Điều trị các triệu chứng như sốt, đau và nâng cao thể trạng, bù nước và điện giải cũng cần được tiến hành song song. Cần loại bỏ dị vật bên trong ổ áp xe nếu có. Xem thêm Những điều cần biết về xét nghiệm công thức máu Áp xe vú Nguyên nhân, triệu chứng, chẩn đoán và điều trị Áp xe hậu môn Nguyên nhân, triệu chứng, chẩn đoán và điều trị
1. Đại cương Các áp xe quanh họng có thể gặp ở trẻ em và người lớn. Nếu phát hiện sớm và điều trị kịp thời có thể khỏi bệnh, ngược lại bệnh có thể gây các biến chứng nặng thậm chí tử vong. Áp xe quanh họng là cấp cứu trong Tai Mũi Họng. Các áp xe quanh họng có thể gặp là – Áp xe thành sau họng. – Viêm tấy và áp xe quanh amidan. – Áp xe amidan – Áp xe thành bên họng 2. Sơ lược về giải phẫu họng Họng là một ống cơ và màng, đi từ mỏm nền đến đốt sống cổ VI. Từ trong ra ngoài cấu trúc họng gồm niêm mạc, cân hầu trong, lớp cơ, cân hầu ngoài. Họng được chia ra ba phần họng mũi – họng miệng – họng thanh quản. Xung quanh họng có nhiều tổ chức lymphô tập trung thành những amidan, gọi là vòng Waldeyer. ở xung quanh họng phía sau và bên, có những khoảng có thể bóc tách được gọi là những khoảng quanh họng hay bên họng. Có ba khoảng chính Khoảng I Còn gọi là khoảng sau họng Hencké. Trong khoảng I có hạch Gilette. Hạch này hình thành ngay sau khi trẻ sinh ra và bắt đầu thoái triển khi trẻ lên 2 tuổi. Khi hạch này bị viêm và hóa mủ sẽ tạo thành áp xe thành sau họng. Khoảng II Còn gọi là khoảng dưới tuyến mang tai sau của Sébileau. Trong khoảng II có các cơ quan chính sau Động mạch cảnh trong, tĩnh mạch cảnh trong, các dây thần kinh IX, X, XI, XII, hạch thần kinh giao cảm cổ, các hạch bạch huyết. Khoảng III Còn gọi là khoảng dưới tuyến mang tai trước của Sébileau. Trong khoảng III có những cơ quan chủ yếu sau Phần trên của tuyến nước bọt mang tai và động mạch cảnh ngoài. 3. Áp xe thành sau họng Áp xe thành sau họng là sự viêm tấy mủ của hạch Gilette ở trước cổ trong khoảng sau họng Henké. Bệnh hay gặp ở trẻ em 2 tuổi > 2 tuổi hạch Gilette thường teo dần Nguyên nhân Thường do biến chứng của viêm VA, viêm mũi, sau các bệnh nhiễm trùng lây như sởi-cúmho gà…, hoặc do hóc xương. Tùy vị trí của hạch Gilette mà áp xe có thể ở cao hoặc thấp trong họng. Triệu chứng lâm sàng Trên cơ sở một bệnh nhi đang bị viêm mũi, viêm VA…, có các triệu chứng Toàn thân – Sốt – quấy khóc – nhát ăn – gầy sút. – Có thể sốt cao gây co giật. Cơ năng – Khó nuốt Lúc đầu do đau họng, về sau khối áp xe to càng gây nuốt khó khăn và đau. Bệnh nhi đói, muốn ăn nhưng khi bú thì bị sặc hoặc không bú liên tục được, phải nhr vú luôn. – Khó thở Lúc đầu nhẹ sau thành nặng. Khó thở xuất hiện khi áp xe đã khá lớn, khó thở xuất hiện sớm khi u nằm thấp. Có trường hợp gây co thắt thanh quản làm khó thở tăng lên, có thể tử vong. Khó thở kiểu thanh quản khó thở vào, có tiếng rít và co kéo. – Tiếng khóc khàn Tiếng khóc giọng mũi kín và khàn giọng. Thực thể – Hạch góc hàm Thường sưng và đau – Khám Thành sau họng niêm mạc đỏ và căng phồng. Lúc đầu túi mủ nằm một bên, nhưng dần dần lan vào giữa. Cần chú ý khi đè lưỡi khám họng cần làm nhẹ nhàng, tránh đè mạnh và thô bạo có thể gây co thắt thanh quản làm ngừng thở đột ngột. Khi sờ nhẹ bằng ngón tay có cảm giác căng phồng. – Chụp phim cổ nghiêng thấy cột sống cổ mất độ cong sinh lý, phần mềm trước cột sống cổ dày, có thể có mức hơi nước. – Chọc dò thường hút ra mủ. Tiến triển – Nếu không phát hiện được, túi mủ sẽ to dần lên, làm cho bệnh nhi suy kiệt vì không ăn uống được, gây nhiễm trùng nặng. Nguy hiểm nhất là ổ áp xe tự vở, mủ tràn ngập khí phế quản gây ngạt thở và từ vong. – Nếu phát hiện kịp thời, chích rạch dẫn lưu mủ thì bệnh sẽ khỏi nhanh chóng. Điều trị – Chủ yếu là chích dẫn lưu ổ áp xe qua đường miệng. – Nên thực hiện việc chích dẫn lưu ở phòng mổ hoặc nơi có điều kiện để xử trí khi có tình huống cấp cứu xảy ra. – Cho trẻ nằm đầu thấp, giữ chặt hoặc quấn vào một khăn to thật gọn, dùng dao lá lúa rạch túi mủ ở đường giữa, sau rạch dốc ngược đầu bé xuống không cho mủ tràn vào đường thở gây ngạt thở hoặc viêm phổi về sau. Cần banh rộng cho mủ chảy ra. – Những ngày sau cần khám lại theo dõi sự dẫn lưu, nếu cần có thể rach rộng thêm. – Dùng kháng sinh toàn thân – Khi khỏi bệnh nên nạo VA. 4. Viêm tấy và áp xe quanh amidan Viêm tấy và áp xe quanh amidan là sự viêm tấy tổ chức liên kết lỏng lẻo bên ngoài bọc amidan. Khi đã thành mủ thì gọi là áp xe quanh amidan. Bệnh hay gặp ở thiếu niên và người trẻ tuổi. Bệnh có nhiều thể lâm sàng thể trước trên, thể sau, thể dưới và thể ngoài. Thể điền hình hay gặp trên lâm sàng là thể trước trên. Nguyên nhân Thường do viêm A mạn tính đợt cấp, hoặc biến chứng của răng khôn hàm dưới. Vi khuẩn hay gặp là liên cầu. Triệu chứng lâm sàng Toàn thân Sốt cao 38-39 C, tình trạng nhiễm trùng mệt mỏi và bơ phờ. Cơ năng – Đau họng Thường đau một bên nhiều, đau nhói lên thấu tai nhất là khi nuốt nên người bệnh thường để nhước bọt ứ đọng trong miệng hoặc rệu ra ngoài. – Há miệng hạn chế – Tiếng nói lúng búng và ngột ngạt như có dị vật to trong họng “giọng ngậm hạt thị”, hơi thở hôi. Thực thể Thường gặp thể trước trên – Họng mất cân xứng lưỡi gà và màn hầu bị phù nề đẩy lệch sang một bên – Trụ trước A sưng phồng, đỏ nhất là 1/3 trên. Amidan bị đầy vào trong, xuống dưới và ra sau. Trụ sau bị che lấp. Bề mặt amidan chỉ hơi sung huyết, đôi lúc có ít xuất tiết . – Hạch góc hàm có thể sưng to và đau. – Chọc dò thấy có mủ áp xe hoặc chỉ có ít xuất tiết không có mủ viêm tấy. Tiến triển – Nếu để tự nhiên, bệnh nhân phải chịu đựng đau kéo dài và mủ sẽ vở ở chổ phồng nhất và có thể khỏi dần. Nếu chổ vở không đủ rộng để dẫn lưu, bệnh sẽ kéo dài và dễ tái phát làm cho bệnh nhân suy nhược mệt mỏi. – Nếu được chích rạch và dẫn lưu tốt, sẽ lành nhanh sau vài ngày dùng kháng sinh. – Bệnh có thể gây các biến chứng phù nề thanh quản, viêm hạch dưới góc hàm, áp xe thành bên họng, Đối với thể sau có thể gây nhiễm trùng huyết hoặc tổn thương động mạch cảnh trong. Điều trị – Giai đoạn viêm tấy Dùng kháng sinh toàn thân liều cao, giảm viêm, giảm đau – Giai đoạn có mủ Phải chích rạch đủ rộng, kháng sinh toàn thân. Thường chích rạch ở vị trí 1/3 trước trên của trụ trước chổ phồng nhất, sau đó mở rộng để dẫn lưu mủ. – Cắt amidan để tránh tái phát. 5. Áp xe amidan Áp xe amidan là sự nung mủ ngay trong tổ chức amidan, thường gặp một bên. Bệnh gặp cả người lớn và trẻ em. Trên cơ sở một viêm amidan mạn, các khe và các hốc bị bít tắt lại, chất ứ đọng bị bội nhiễm tạo thành túi mủ ngay trong nhu mô amidan. Nguyên nhân Thường do viêm amidan mạn đợt cấp. Sau khi viêm amidan, các triệu chứng tạm bớt rồi đau trở lại, đau chỉ một bên. Triệu chứng lâm sàng Toàn thân Có thể sốt nhẹ hay sỗt cao, người mệt mỏi Cơ năng Nuốt đau, không ăn uống được. Có cảm giác như bị hóc xương. Thực thể – Khi khám họng miệng thấy amidan sưng to, một phần hoặc toàn bộ amidan bị căng phồng lên làm căng trụ trước. – Các trụ không viêm, màn hầu có vẻ bình thường. – Sờ vào amidan có cảm giác lùng nhùng, đau. Chọc dò có mủ. – Hạch góc hàm có thể sưng hoặc không. Tiến triển – Nếu được dẫn lưu mủ và dùng kháng sinh toàn thân, bệnh sẽ khỏi nhanh. – áp xe sẽ tự vỡ khoảng năm sáu ngày sau nhưng để lại một hốc. Chổ vở sẽ lành nhưng hay tái phát. Điều trị – Khi chọc dò có mủ nên xẻ dẫn lưu, dùng kháng sinh toàn thân – Nên cắt amidan để tránh tái phát. 6. Áp xe thành bên họng Nguyên nhân Thường do viêm nhiễm từ amidan khẩu cái lan ra ngoài theo đường tĩnh mạch hoặc do viêm tấy và hóa mủ của các hạch khoảng bên họng. Có thể do thủng thành họng vì chấn thương hay dị vật Triệu chứng lâm sàng Toàn thân Sốt cao, mạch nhanh, tình trạng nhiễm trùng. Người mệt mỏi, bơ phờ. Cơ năng – Đau họng, đau tăng lên khi khi quay cổ, khi sờ vào chổ sưng và há miệng. – Nuốt đau và khó nuốt, khi nuốt đau lan lên tai. – Nước bọt chảy nhiều, tràn ra miệng, có thể gây ho khi chảy vào thanh quản. – Giọng nói nặng và ồm ồm. Thực thể – Sưng cổ ở vùng máng cảnh, bờ dưới góc hàm hoặc vùng dưới hàm. Bờ trước cơ ức đòn chũm có thể bị đẩy phồng lên. – Sờ vào vùng cổ bị sưng gây đau, có mủ thì có cảm giác căng hoặc lùng nhùng. – Hạch cổ sưng to và có hiện tượng viêm xung quanh hạch. – Bệnh nhân thường ngoẹo cổ về bên bệnh. – Khám họng A và các trụ bị đẩy vào trong. Màn hầu và lưỡi gà không bị phù nề. Tiến triển Túi mủ ngày một lớn, nếu không xử trí có thể vở ra ngoài cổ hoặc lan vào trong rồi vở vào họng, đôi khi lan xuống thượng đòn rồi đi xuống trung thất nhưng rất hiếm. Điều trị – Khi chưa có mủ, cần dùng kháng sinh toàn thân, giảm viêm, giảm đau. – Cần chích rạch sớm ngay khi bắt đầu có mủ. Có thể mổ cạnh cổ để dẫn lưu. Cần cho kháng sinh liều cao và theo dõi cẩn thận sau khi chích rạch. Comments
áp xe thành sau họng